(1).jpg)
Sáng 3/3/2026, tại Phòng Geneva, Ban Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ đối ngoại, Học viện Ngoại giao đã tổ chức Tọa đàm “Xây dựng Đề án Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ làm công tác đối ngoại nhân dân giai đoạn 2026–2030”, với sự tham dự của lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, đại diện các địa phương, hiệp hội cùng đông đảo chuyên gia, nhà khoa học. Tọa đàm là bước tham vấn quan trọng nhằm hoàn thiện Đề án trong bối cảnh đối ngoại nhân dân (ĐNND) được xác định là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện, hiện đại.
.jpg)
Phát biểu khai mạc, ông Nguyễn Mạnh Đông, Phó Giám đốc Học viện Ngoại giao, nhấn mạnh yêu cầu “nâng tầm tư duy và phương thức triển khai công tác ĐNND, bảo đảm tương xứng với thế và lực mới của đất nước”. Báo cáo đề dẫn của Ban Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đối ngoại cho biết giai đoạn 2020–2025 đã đạt nhiều kết quả tích cực, song trước yêu cầu mới của hội nhập sâu rộng, chuyển đổi số và cạnh tranh chiến lược, đội ngũ làm công tác ĐNND vẫn còn những hạn chế về tính chuyên nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỹ năng tham mưu chiến lược và khả năng phối hợp liên ngành.
.jpg)
Từ góc độ tổng thể chiến lược, ông Đồng Huy Cương, Phó Chủ tịch VUFO, khẳng định ĐNND “không chỉ là kênh hỗ trợ mà là một chủ thể tham gia trực tiếp kiến tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển”. Theo ông, trong giai đoạn 2026–2030, ĐNND cần phát huy vai trò nền tảng xã hội, tăng cường chiều sâu và tính bền vững của quan hệ đối tác, đồng thời chủ động tham gia các cơ chế đa phương, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Nguyễn Thị Kiều Vân (Cục Ngoại vụ và Ngoại giao Văn hóa, Bộ Ngoại giao) nhấn mạnh việc quán triệt tinh thần Chỉ thị 12-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với ĐNND, trong đó yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, bảo đảm vững vàng bản lĩnh chính trị, tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ. Bà cho rằng, trước bối cảnh quốc tế biến động nhanh, ĐNND cần “chủ động, chiến lược và bài bản hơn trong nghiên cứu, dự báo và tham mưu”.
Đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, TS. Nguyễn Văn Hanh tập trung phân tích những năng lực và phẩm chất cốt lõi của đội ngũ làm công tác ĐNND trong kỷ nguyên mới. Theo ông, bên cạnh bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp, cán bộ ĐNND phải có năng lực nghiên cứu, dự báo, kỹ năng ngoại ngữ, giao tiếp đa văn hóa và khả năng ứng dụng công nghệ số. “Chúng ta không thể làm đối ngoại nhân dân theo cách cũ trong một thế giới đã thay đổi quá nhanh”, ông nhấn mạnh.
Bà Nguyễn Phương Nga – nguyên Chủ tịch VUFO – đãđưa ra những kiến nghị cụ thể về đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo. Bà cho rằng công tác bồi dưỡng hiện nay còn mang tính đại trà, thiếu cá thể hóa theo nhu cầu từng cơ quan, hộiđoàn, tổ chức; phương pháp giảng dạy còn ít tương tác, chưa gắn chặt với thực tiễn xử lý tình huống. Bà đề xuất xây dựng chương trình đào tạo theo hướng “thiết kế theo năng lực đầu ra”, tăng cường mô phỏng tình huống, đánh giá thực chất và ràng buộc trách nhiệm học tập của học viên.
Từ thực tiễn địa phương, bà Vũ Thị Hằng, Phó Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Lào Cai, chia sẻ những con số ấn tượng về vận động viện trợ phi chính phủ và các mô hình kết nghĩa biên giới. Tuy nhiên, bà thẳng thắn chỉ ra “nút thắt” lớn nhất là thiếu hụt nhân lực chuyên trách và kỹ năng quản trị dự án quốc tế. Với chỉ 3 biên chế thường trực nhưng phải xử lý khối lượng lớn dự án và quan hệ đối tác đa dạng, Lào Cai đang rất cần các chương trình đào tạo chuyên sâu, đặc thù cho địa bàn biên giới, đặc biệt về quản lý NGO, ngoại ngữ chuyên ngành và xử lý khủng hoảng truyền thông.
Một hướng tiếp cận mới được ông Lương Quang Đảng, đại diện Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, đề cập là “ngoại giao khoa học” – coi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực mới nâng cao vị thế quốc gia. Theo ông, trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, hợp tác học thuật, mạng lưới chuyên gia và dự án công nghệ xuyên biên giới không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn góp phần xây dựng lòng tin và hình ảnh một Việt Nam năng động, sáng tạo.
(1).jpg)
Phần thảo luận sôi nổi tập trung vào các câu hỏi then chốt: đào tạo dài hạn hay ngắn hạn cho từng nhóm đối tượng; cơ chế phối hợp giữa ba trụ cột đối ngoại; xây dựng đội ngũ giảng viên và học liệu chuyên sâu; cũng như yêu cầu chuyển đổi số trong công tác ĐNND.
Đại sứ Hà Kim Ngọc – Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ nhấn mạnh dư địa của công tác đối ngoại nhân dân vẫn còn rất nhiều và chúng ta đang có một cơ hội chưa từng có, thực sự hiếm có để thúc đẩy công tác này. Đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp chuyên trách làm công tác đối ngoại nhân dân còn rất mỏng và còn phải nỗ lực rất nhiều mới có thể đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Do đó, đề án cần làm rõ một tầm nhìn không chỉ trong 5 năm mà là 10 năm hoặc thậm chí xa hơn để ta có thể xây dựng cho được đội ngũ làm công tác đối ngoại nhân dân thực sự đúng tầm.
Đại sứ PGS. TS. Đặng Đình Quý – Nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Nguyên Đại sứ Trưởng phái đoàn Việt Nam tại Liên Hợp quốc với tư cách là giảng viên đã tham gia giảng dạy các khoá bồi dưỡng dành cho đội ngũ làm công tác đối ngoại nhân dân nhấn mạnh cần xác định rõ cái “muốn” và cái “có thể” để mục tiêu đề ra và khả năng thực hiện không quá xa nhau. Từ đó, mới đưa ra những chương trình, dự án và kế hoạch khả thi, đạt kết quả tối ưu.
Bà Vũ Thị Mai - Chủ tịch Hiệp hội Kiểm toán Việt Nam – Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính với tư cách là đại diện đơn vị thụ hưởng đề án giai đoạn 2020 - 2025 đánh giá cao việc Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm đến vai trò của các tổ chức, hiệp hội trong công tác đối ngoại nhân dân và trong tổng thể chung của công tác đối ngoại. Bà Mai bày tỏ mong muốn trong thời gian tới đề án sẽ tăng cường tổ chức các chương trình bồi dưỡng với những nội dung quán triệt các chính sách của Đảng về đối ngoại để các hoạt động của Hội đi đúng những định hướng của Đảng và nhà nước. Bên cạnh đó, các kỹ năng về vận động, đàm phán và ký kết các văn bản trong hợp tác quốc tế, các kỹ năng về truyền thông đối ngoại, lễ tân đối ngoại cũng là những kỹ năng rất quan trọng mà các thành viên Hội rất mong muốn được nâng cao hiểu biết và cập nhật kiến thức.
Nhiều ý kiến thống nhất rằng đào tạo phải được phân tầng từ lãnh đạo tham mưu chiến lược đến cán bộ thực thi và lực lượng cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng cần gắn với tiêu chuẩn năng lực cụ thể và cơ chế đánh giá minh bạch.
Kết thúc tọa đàm, các đại biểu cùng chung nhận định: nếu không có bước đột phá về đào tạo và chuyên nghiệp hóa đội ngũ, ĐNND khó có thể phát huy trọn vẹn vai trò trụ cột trong nền ngoại giao toàn diện, hiện đại. Đề án giai đoạn 2026–2030 vì vậy không chỉ là kế hoạch đào tạo đơn thuần, mà là một chiến lược đầu tư cho “sức mạnh mềm” của đất nước – nơi mỗi cán bộ đối ngoại nhân dân thực sự trở thành cầu nối tin cậy giữa Việt Nam và bạn bè quốc tế, góp phần kiến tạo môi trường hòa bình, ổn định và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.